LỜI KHUYÊN VÀ

CÁCH PHÒNG TRÁNH

Chăm sóc da đúng cách có vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa loét do tì đè.

Nên kiểm tra và rửa sạch sẽ hàng ngày cho da, sử dụng nước ấm và xà phòng giữ ẩm trong việc vệ sinh.

Các vùng da có nguy cơ bị loét do tì đè cần được điều trị nhẹ nhàng và cung cấp độ ẩm phù hợp nếu da khô.

Lưu ý: Tránh gây áp lực lên các vùng da có nguy cơ hình thành loét do tì đè cao hoặc những nơi đã hình thành ổ loét.

Tìm hiểu thêm

Di chuyển và thường xuyên thay đổi tư thế của bệnh nhân giúp:

  • Ngăn ngừa loét do tì đè phát triển ở các khu vực có nguy cơ loét

  • Giảm áp lực lên vùng loét tì đè độ 1 hay 2.

 

Để hỗ trợ quản lý áp lực tì đè:

  • Dùng các vật dụng bề mặt có tính hỗ trợ phù hợp cho bệnh nhân như nệm hoặc nệm hơi…

  • Thay đổi tư thế nằm của bệnh nhân hai giờ một lần

  • Giảm áp lực lên gót chân hoặc chỗ xương lồi lên bằng các sử dụng gối hoặc thay đổi giày phù hợp

  • Thay đổi tư thế ngồi của bệnh nhân một giờ một lần

  • Đặt gối ở giữa hai chân bệnh nhân khi nằm nghiêng

  • Giảm sự ma sát và tác động đến vết loét.

 

Da ở các vùng có nguy cơ loét cần được kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm nhất các dấu hiệu hình thành loét do tì đè (giai đoạn 0), khi đó vùng da bị tấy đỏ và loét do tì đè có thể hình thành rất nhanh. Việc sử dụng Sanyrene có thành phần (Corpitol 60) Glyceride có mức độ oxy hóa cao của acid béo thiết yếu, được chứng minh là giảm 50% nguy cơ hình thành loét do tì đè. Sanyrene được chỉ định sử dụng cho các bệnh nhân có nguy cơ hình thành loét do tì đè, đặc biệt ở giai đoạn 0.

  • Xịt một lần lên vùng có nguy cơ hình thành loét do tì đè (gót chân, xương cùng…)

  • Xoa nhẹ nhàng bằng tay trong vòng 1 phút.

  • Dùng 3 - 4 lần mỗi ngày, lúc thay đổi tư thế cho bệnh nhân.

Cần chú ý đến chế độ ăn uống của bệnh nhân,

tình trạng dinh dưỡng và khả năng bài tiết.

BỆNH HỌC

VỊ TRÍ

 

 

80% loét do tì đè hình thành ở vị trí xương cùng (xương nối) hoặc gót chân.

Vị trí thường xuyên bị loét là đốt chuyển (xương hông) khi bệnh nhân nằm một bên, các khu vực khác có nguy cơ là chỏm đầu, khuỷu tay và đốt háng.

​DẤU HIỆU NHẬN BIẾT

Loét do tì đè có thể được phân loại theo

phẫu thuật hoặc theo màu sắc.

PHÂN LOẠI THEO PHẪU THUẬT

Loét do tì đè có thể được chia thành các giai đoạn khác nhau. Có nhiều biểu hiện khác nhau của loét do tì đè và các giai đoạn không theo thứ tự.

GIAI ĐOẠN 4: TỔN THƯƠNG SÂU

Giai đoạn này dẫn đến tổn thương mô sâu hơn đến phần mô dưới da và ảnh hưởng đến các cấu trúc bên trong như: gân, cơ bắp hoặc xương.

GIAI ĐOẠN 0: DA BỊ CHUYỂN MÀU SANG ĐỎ

Giai đoạn 0 là giai đoạn cảnh báo có nguy cơ loét do tì đè. Đây là giai đoạn lâm sàng, da vẫn còn nguyên vẹn, có sự xuất hiện rõ ràng của vùng da màu đỏ. Có nghĩa là, khi có áp lực dưới vùng da đỏ này, vùng da đó sẽ chuyển thành màu trắng.

Bệnh nhân bị rối loạn về chỉnh hình, hoặc trong tình trạng bất động lâu dài cùng với cơ thể suy nhược dễ dàng bị các tổn thương không thể nhìn thấy và hình thành loét do tì đè ở giai đoạn 0.

Đây là giai đoạn lâm sàng, da vẫn còn nguyên vẹn, có sự xuất hiện rõ ràng của vùng da màu đỏ. Có nghĩa là, khi có áp lực dưới vùng da đỏ này, vùng da đó sẽ chuyển thành màu trắng.

GIAI ĐOẠN 1: DA BỊ ĐỎ (BỊ MẪN ĐỎ)

Các mảng da trong giai đoạn này thường bị phù nề, hoặc cứng khi nóng (sốt cao) và thường bị đau. Đặc biệt dưới áp lực, vùng da đỏ không bị chuyển thành màu trắng.

Các dấu hiệu ban đỏ là biểu hiện của các lớp biểu bì, hoặc các lớp hạ bì bị ảnh hưởng.

Giai đoạn này cần sự chăm sóc đặc biệt cẩn thận. Không nên xoa bóp các khu vực bị đỏ mà không được khuyến cáo hoặc chỉ định, điều này có thể dẫn đến tình trạng bệnh thêm trầm trọng.

GIAI ĐOẠN 2: VÙNG DA BỊ ĐỎ VỚI LOÉT Ở BỀ MẶT DA VÀ BIỂU BÌ

Kết quả của giai đoạn này:


Các nốt phồng nước dẫn đến sự chia tách lớp biểu bì, làm tổn thương lớp biểu bì và da.

GIAI ĐOẠN 3: HOẠI TỬ MÔ

Giai đoạn này: lớp biểu bì, trung bì và hạ bì bị ảnh hưởng, nhưng không ảnh hưởng đến phần cơ.

Các bức ảnh cho thấy, các vết loét do tì đè bị bao phủ bởi mô hoại tử màu đen, và có tiếp giáp với các mô khỏe mạnh xung quanh. Điều này cho thấy rõ ràng sự suy yếu của các mô bên dưới.

 

Hình dáng bên ngoài vết thương không thể hiện được dấu hiệu tổn tương cũng như độ sâu của vết  thương.

LÀNH THƯƠNG Ở LOÉT DO TÌ ĐÈ

Khi phát hiện nguy cơ hình thành loét do tì đè hoặc loét do tì đè chỉ mới được hình thành, phương pháp tốt nhất là điều trị sớm, tránh tình trạng bệnh phát triển lên một giai đoạn nghiêm trọng hơn và dẫn đến các biến chứng:

  • Hầu hết các vết loét do tì đè giai đoạn 1 và giai đoạn 2 sẽ lành thương nhanh chóng nếu có sự điều trị hợp lý.

  • Các vết loét giai đoạn 3 và giai đoạn 4 mất thời gian dài để lành thương. Mặc dù tiến trình lành thương diễn ra chậm, nhưng cần phải chăm sóc và điều trị để phòng ngừa các biến chứng nhiễm trùng máu hoặc phát triển tổn thương mô ở những bộ phận khác.

NGUYÊN TẮC CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG 

LOÉT DO TÌ ĐÈ

 

Nguyên tắc 1:

Đánh giá chính xác các vết loét do tì đè dựa vào các yếu tố: vị trí loét, kích thước và nền vết thương, dịch tiết, tình trang vùng da xung quanh. Đồng thời cần xác định vết thương có hình thành hố hay lỗ rò vết thương.

Nguyên tắc 2:

Thường xuyên đánh giá tình trạng của vết thương (ít nhất là hàng tuần).

Trong trường hợp tình trạng của bệnh nhân hoặc vết thương có tiến triển cần tiến hành đánh giá lại và kế hoạch điều trị phù hợp mới.

Bất kì biến chứng nào do sức khỏe của bện nhân gây ra phải được giải quyết hàng đầu để quá trình lành thương được tối ưu.

  • Cắt lọc tự phân: Lấy đi các mô hoại tử nhờ bạch cầu và enzymes của cơ thể, không gây tổn thương đến các mô khỏe mạnh. Đây là quá trình sinh lý tự nhiên diễn ra trong môi trường lành thương ẩm duy trì bởi băng gạc.

  • Cắt lọc hóa học: Sử dụng tại chỗ các enzyme có liên quan như collagenase và các tác nhân gây biến tính như hypochlorite sodium, là 1 tác nhân không chọn lọc.

  • Phương pháp cắt lọc phẫu thuật loại bỏ mô hoại tử; sử dụng dao mổ và kéo hoặc kẹp vô trùng để thực hiện. Quy trình thực hiện bởi các bác sĩ phẫu thuật.

  • Các phương pháp cắt lọc khác: cắt bằng tia laser, tia nước, giòi sinh học, mật ong….

Các phương pháp cắt lọc:

  • Dùng lực nhẹ để rửa sạch vết thương bằng nước sạch hoặc nước muối sinh lý.

  • Thuốc sát trùng chỉ nên được sử dụng để kiểm soát lượng vi khuẩn dựa trên đánh giá lâm sàng, và chỉ nên dùng trong thời gian ngắn đến khi vết thương đã sạch và giảm viêm.

  • Thay băng gạc theo chỉ định của chuyên gia y tế, dựa trên mức độ dịch tiết và tình trạng vết thương, cũng như hướng dẫn của nhà sản xuất, không nhất thiết phải thay băng hàng ngày do thay băng thường xuyên có thể gây tổn thương nền vết thương.

  • Nếu sử dụng băng gạc chứa bạc, cần thay băng mỗi 1 đến 3 ngày tùy theo lượng dịch tiết và tình trạng vết thương. Khuyên dùng băng gạc chứa bạc ít nhất 2 tuần trước khi đánh giá lại vết thương và chỉ dùng băng gạc chứa bạc tối đa trong 4 tuần.

Chăm sóc vết thương

 
 
 
 

Loét do

TÌ ĐÈ

Loét do tì đè xuất hiện khi mạch máu bị đè ép quá lâu trên một vùng của cơ thể, thường xuất hiện ở những vùng có xương bị nhô lên hoặc do khi dùng giường, ghế hoặc do bị hằn bởi ống truyền.

Loét do tì đè hình thành là do hoại tử thiếu máu cục bộ (thiếu nguồn cung cấp máu) của da và mô dưới da.

Sự hình thành loét do tì đè có thể do các yếu tố bên ngoài (không liên quan đến bệnh nhân) hoặc yếu tố bên trong (phụ thuộc vào tình trạng của bệnh nhân).

Bệnh nhân bị loét do tì đè không chỉ bị ảnh hưởng thể chất bởi sự đau đớn trong quá trình điều trị, mà còn ảnh hưởng đến tâm lý, khiến họ cảm thấy: bị cô lập với xã hội, tự ti, trầm cảm….

Cắt lọc vết thương

Để thúc đẩy quá tình lành thương, phương pháp cắt lọc được sử dụng để loại bỏ các mô hoại tử (mô chết), giúp kiểm soát và ngăn ngừa nhiễm trùng, xác định tình trạng của vết thương.